Di sản là phần ký ức lớn nhất của Hà Nội, nhưng để di sản bước vào đời sống đương đại, thành phố cần nhiều hơn việc gìn giữ. Bảo tàng, di tích và các thiết chế văn hóa có thể trở thành những điểm chạm mạnh mẽ nếu biết mở cửa đúng lúc, tổ chức trải nghiệm đủ hấp dẫn, và để thiết kế, nghệ thuật, công nghệ kể lại câu chuyện di sản theo cách mới. Khi đó, di sản không chỉ nằm yên trong tủ kính, mà trở thành không gian sống, nơi người dân và du khách tìm thấy bản sắc của Hà Nội trong hiện tại.
Trong định hướng Mạng lưới Không gian Văn hóa Sáng tạo Hà Nội, nhóm không gian công lập là phần lõi tạo độ tin cậy và độ mở cho toàn hệ sinh thái. Khi có một mạng lưới chung để kết nối hoạt động, di sản có cơ hội trở thành điểm hẹn của cộng đồng sáng tạo, nơi các chương trình diễn ra liên tục, có chiều sâu, đồng thời giữ được nguyên tắc bảo tồn trong quá trình kích hoạt và lan tỏa.
Được thành lập theo Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày 26/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là thiết chế văn hóa – khoa học quan trọng bậc nhất của Việt Nam, tọa lạc tại khu vực trung tâm Thủ đô Hà Nội, gần các di tích tiêu biểu như Hồ Gươm, Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa.
Là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia giữ vai trò trung tâm trong hệ thống các bảo tàng lịch sử – xã hội Việt Nam. Bảo tàng có chức năng nghiên cứu khoa học, khảo cổ học, sưu tầm, bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị di sản lịch sử – văn hóa, đồng thời tham gia đào tạo, tư vấn chuyên môn và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tàng học.
Hiện nay, Bảo tàng đang lưu giữ khoảng 200.000 hiện vật và tư liệu, phản ánh tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến nay, trong đó có 28 Bảo vật quốc gia cùng nhiều bộ sưu tập quý hiếm như văn hóa Đông Sơn, gốm men cổ Việt Nam, đồ đồng Lê – Nguyễn, điêu khắc Champa và các sưu tập nghệ thuật châu Á. Hệ thống trưng bày thường xuyên được tổ chức tại hai cơ sở:
Với vị thế là thành viên của Hiệp hội Bảo tàng quốc tế (ICOM) và thành viên sáng lập Hiệp hội các Bảo tàng quốc gia châu Á (ANMA), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh lịch sử – văn hóa Việt Nam ra thế giới. Trong tương lai, bảo tàng mới tại khu đô thị Tây Hồ Tây sẽ trở thành một công trình văn hóa hiện đại tầm khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giáo dục và tham quan ngày càng cao của công chúng.
Trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những thiết chế văn hóa – nghệ thuật quan trọng nhất của quốc gia, giữ vai trò trung tâm trong việc lưu giữ, nghiên cứu và phát huy di sản mỹ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Bảo tàng được thành lập ngày 24/6/1966, với sứ mệnh sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, tu sửa, phục chế, trưng bày, giáo dục và truyền thông các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của Việt Nam tới công chúng trong nước và quốc tế.
Tọa lạc tại 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội, bảo tàng nằm trong một công trình kiến trúc lịch sử thời Pháp thuộc, được cải tạo hài hòa giữa phong cách châu Âu và yếu tố kiến trúc Việt Nam, phù hợp với chức năng bảo tàng mỹ thuật. Hiện nay, bảo tàng quản lý và lưu giữ gần 20.000 hiện vật, tác phẩm, phản ánh tiến trình phát triển của mỹ thuật Việt Nam từ thời Tiền sử đến đương đại, trong đó nổi bật là bộ sưu tập các thế hệ họa sĩ Trường Mỹ thuật Đông Dương – dấu mốc rực rỡ của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Với hệ thống trưng bày thường xuyên rộng khoảng 3.000 m², cùng các không gian trưng bày chuyên đề, Không gian sáng tạo cho trẻ em, hoạt động giáo dục, triển lãm trong nước và quốc tế, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không chỉ là nơi bảo tồn di sản mà còn là không gian sống động cho nghiên cứu, học tập, trải nghiệm và đối thoại nghệ thuật, góp phần đưa mỹ thuật Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng và thế giới.
Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội là đơn vị trực thuộc UBND thành phố Hà Nội, có trụ sở tại 12 Nguyễn Tri Phương, quận Ba Đình, giữ vai trò quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị khu di sản trung tâm Hoàng thành Thăng Long và khu di tích Cổ Loa – những địa danh tiêu biểu gắn với lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long – Hà Nội.
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích đặc biệt quan trọng, phản ánh tiến trình lịch sử liên tục suốt hơn 13 thế kỷ. Cuộc khai quật khảo cổ quy mô lớn từ năm 2002 tại khu vực Ba Đình đã phát lộ hệ thống di tích, tầng văn hóa và hàng triệu hiện vật quý, tái hiện rõ dấu ấn các triều đại từ thời Bắc thuộc đến Lý, Trần, Lê, Mạc và Nguyễn (thế kỷ VII–XIX). Năm 2010, khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới, khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của di sản này.
Trung tâm có chức năng xây dựng và triển khai quy hoạch tổng thể, tổ chức bảo quản, tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích; đồng thời nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, giáo dục di sản và hợp tác quốc tế, đặc biệt với UNESCO. Thông qua các hoạt động khoa học, trưng bày và truyền thông, Trung tâm góp phần đưa di sản Thăng Long – Hà Nội trở thành không gian sống của lịch sử, phục vụ nghiên cứu, học tập và tham quan của cộng đồng trong nước và quốc tế.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được thành lập năm 1987, trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, với sứ mệnh nâng cao hiểu biết của công chúng về lịch sử, di sản văn hóa và vai trò của phụ nữ Việt Nam từ quá khứ đến hiện đại, đồng thời góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Ý tưởng thành lập Bảo tàng được đặt nền móng bởi bà Nguyễn Thị Định, như một cam kết gìn giữ ký ức và đóng góp của phụ nữ Việt cho các thế hệ mai sau.
Tọa lạc tại phố Lý Thường Kiệt, trung tâm Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng chính thức mở cửa đón khách năm 1995 và được đổi mới toàn diện vào năm 2010. Hệ thống trưng bày thường xuyên hiện nay gồm ba chủ đề lớn: Phụ nữ trong Gia đình, Phụ nữ trong Lịch sử, Thời trang nữ, cùng các trưng bày chuyên đề tiêu biểu như Tín ngưỡng thờ Mẫu. Bảo tàng hiện lưu giữ hơn 40.000 tài liệu, hiện vật, phản ánh sinh động đời sống, lao động, sáng tạo và bản sắc của phụ nữ Việt Nam.
Với phương pháp trưng bày hiện đại, giàu tính tương tác và nhân văn, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là điểm đến văn hóa hấp dẫn, nhiều năm liền được TripAdvisor bình chọn vào Top Bảo tàng hấp dẫn nhất Hà Nội và châu Á, đồng thời là không gian văn hóa – giáo dục giàu giá trị cho công chúng trong nước và quốc tế.
Trung tâm Nghệ thuật đương đại Vincom (VCCA) là trung tâm nghệ thuật phi lợi nhuận do Tập đoàn Vingroup tài trợ, với sứ mệnh kết nối nghệ sĩ với cộng đồng, tác phẩm với công chúng yêu cái Đẹp, và mỹ thuật đương đại Việt Nam với mỹ thuật đương đại thế giới. VCCA hướng tới xây dựng một không gian nghệ thuật cởi mở, nơi các thực hành sáng tạo đương đại được giới thiệu, đối thoại và lan tỏa tới công chúng rộng rãi.
Phát triển trên nền tảng hoạt động nghệ thuật đa dạng, VCCA sở hữu cơ sở hạ tầng và trang thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế, quy tụ đội ngũ nghệ sĩ, giám tuyển, nhà nghiên cứu và người làm nghệ thuật giàu năng lực, tâm huyết trong và ngoài nước. Trung tâm tổ chức các triển lãm, dự án nghệ thuật, chương trình giáo dục – công chúng và đối thoại học thuật, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái nghệ thuật đương đại tại Việt Nam.
Không gian triển lãm chính của VCCA có diện tích khoảng 1.700 m², thiết kế linh hoạt với các mảng tường di động, phù hợp cho nhiều loại hình nghệ thuật đương đại. Mở cửa tự do, VCCA tạo điều kiện để công chúng dễ dàng tiếp cận nghệ thuật, đồng thời từng bước khẳng định vị thế là một trong những trung tâm nghệ thuật quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám là đơn vị sự nghiệp có thu, được thành lập theo Quyết định số 531/QĐ-VHTT&DL ngày 30/6/2009, thực hiện chức năng quản lý Khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và tổ chức các hoạt động văn hóa – khoa học, đồng thời đón tiếp, hướng dẫn khách tham quan trong nước và quốc tế.
Với vai trò “đầu mối vận hành” của một di tích biểu tượng cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng nhân tài của Thăng Long – Hà Nội, Trung tâm triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển di tích; sưu tầm – nghiên cứu tư liệu, hiện vật liên quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám; kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giới thiệu di sản; tổ chức tuyên truyền – giáo dục về truyền thống khoa cử; ứng dụng khoa học công nghệ trong bảo tồn; tiếp nhận, quản lý và cung cấp bản sao di vật/cổ vật theo quy định; tổ chức đón tiếp đoàn ngoại giao, phối hợp các hoạt động đối ngoại, và thực hiện hội thảo, tọa đàm khoa học về nho học, danh nhân, khoa bảng.
Không chỉ bảo tồn di tích, Trung tâm còn chủ động kích hoạt đời sống văn hóa đương đại tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám thông qua các chương trình khuyến học, trao thưởng – tuyên dương, hoạt động giáo dục di sản theo chủ đề, các trưng bày – triển lãm, sự kiện văn hóa đọc, và những sản phẩm trải nghiệm mới như trải nghiệm đêm. Nhờ đó, Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày càng được khẳng định là điểm đến văn hóa – giáo dục tiêu biểu của Thủ đô và cả nước, vừa gìn giữ chiều sâu truyền thống, vừa mở rộng cách tiếp cận cho nhiều nhóm công chúng hôm nay.
Nhà hát Múa rối Thăng Long là một trong những “địa chỉ đỏ” của nghệ thuật múa rối Việt Nam tại Hà Nội, nổi bật với lịch biểu diễn dày đặc phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Nhà hát trở thành thương hiệu tiêu biểu của múa rối nước, với kỷ lục châu Á về biểu diễn liên tục 365 ngày/năm, mỗi ngày thường xuyên tổ chức nhiều suất để đáp ứng nhu cầu khán giả.
Tiền thân của Nhà hát là Đoàn Nghệ thuật Kim Đồng Hà Nội (thành lập ngày 10/10/1969), sau đó đổi tên thành Đoàn Múa rối Hà Nội (1975) và trải qua nhiều giai đoạn thử thách, có lúc đứng trước nguy cơ tan rã vào cuối thời bao cấp. Từ tinh thần đoàn kết và quyết tâm “trở về nguồn” với rối nước truyền thống, tập thể nghệ sĩ đã từng bước phục hồi, mở ra chặng đường phát triển mới khi đoàn được đổi tên thành Đoàn Múa rối Thăng Long (1991–2001). Năm 1993, đoàn chính thức có địa điểm biểu diễn ổn định tại 57B Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, dần trở thành điểm đến văn hóa nghệ thuật quen thuộc của Thủ đô.
Từ năm 2001, đơn vị được nâng cấp thành Nhà hát Múa rối Thăng Long, trực thuộc cơ quan quản lý văn hóa của Hà Nội. Bên cạnh việc giữ gìn tinh hoa rối nước, Nhà hát không ngừng đổi mới hình thức biểu diễn, mở rộng rối cạn, tăng cường đào tạo – truyền nghề, đẩy mạnh giao lưu quốc tế và áp dụng công nghệ trong vận hành (như bán vé điện tử, nâng cấp hạ tầng phục vụ khán giả). Với tinh thần gìn giữ truyền thống đi cùng sáng tạo, Nhà hát tiếp tục là “cửa ngõ” giúp công chúng và bạn bè quốc tế chạm vào một phần rất đặc sắc của văn hóa Việt Nam ngay giữa lòng Hà Nội.
Nhà tù Hỏa Lò được thực dân Pháp xây dựng năm 1896 trên địa bàn làng Phụ Khánh (thuộc Hà Nội xưa), trong bối cảnh chính quyền thuộc địa tăng cường bộ máy đàn áp, hoàn chỉnh hệ thống tòa án và mở rộng mạng lưới nhà tù nhằm đối phó với các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Từ một vùng đất vốn nổi tiếng nghề thủ công, Hỏa Lò bị biến thành nơi giam cầm, đày ải hàng nghìn chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam. Dù phải sống trong chế độ lao tù hà khắc, nhiều người vẫn giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành “trường học” truyền bá lý luận cách mạng, tổ chức đấu tranh và mưu trí vượt ngục để tiếp tục hoạt động.
Trong số những người từng bị giam giữ tại Hỏa Lò có nhiều nhân vật tiêu biểu của phong trào yêu nước và cách mạng như Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Lương Bằng…; đặc biệt có năm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từng bị giam tại đây gồm Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười. Sau tháng 10/1954, Nhà nước Việt Nam tiếp quản và tạm thời sử dụng địa điểm này để giam giữ người vi phạm pháp luật. Giai đoạn 05/8/1964 – 31/3/1973, nơi đây còn được dùng để giam giữ một số phi công Mỹ bị bắn rơi khi tham chiến ở miền Bắc Việt Nam; họ từng gọi Hỏa Lò bằng tên “Hà Nội Hilton”.
Đến năm 1993, trước yêu cầu phát triển kinh tế – đô thị của Thủ đô, Chính phủ quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng khu vực nhà tù; một phần phía Đông Nam được giữ lại, tu bổ, tôn tạo và xếp hạng thành Di tích lịch sử của Hà Nội. Tại đây có Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, đồng thời là không gian trưng bày giúp công chúng hiểu rõ hơn về lịch sử đấu tranh kiên cường của người Việt Nam.
Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò là đơn vị sự nghiệp văn hóa, thực hiện chức năng bảo quản, sưu tầm, kiểm kê, trưng bày và giới thiệu tư liệu – hiện vật liên quan đến di tích; đồng thời tổ chức hướng dẫn tham quan, tuyên truyền – giáo dục truyền thống, hợp tác quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Hoạt động chuyên môn được triển khai qua các bộ phận chính như Phòng Trưng bày – Tuyên truyền và phát huy giá trị di tích (xây dựng nội dung, kịch bản trưng bày, thuyết minh, tổ chức tọa đàm – hội thảo, truyền thông), Phòng Nghiên cứu – Sưu tầm (thu thập tư liệu, thẩm định, lập hồ sơ khoa học, bảo quản – phục chế hiện vật), và Phòng Hành chính – Tổng hợp (quản trị, kế hoạch – tài chính, nhân sự, an ninh – an toàn, tổ chức thu phí tham quan).
Ban Quản lý Di tích – Danh thắng Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 403/QĐ-VHTT&DL ngày 21/5/2009, là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội. Ban có chức năng bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng trên địa bàn Thủ đô. Với vai trò đầu mối chuyên môn, Ban trực tiếp quản lý nhiều di tích quan trọng; triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo, nghiên cứu khoa học, sưu tầm tư liệu, kiểm kê di sản; đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ, phối hợp kiểm tra và tổ chức các hoạt động văn hóa nhằm gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản Hà Nội.
Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội được UBND TP Hà Nội thành lập theo Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 11/01/2021, trên cơ sở sáp nhập Ban Quản lý khu vực hồ Hoàn Kiếm và Ban Quản lý phố cổ Hà Nội. Việc thành lập đơn vị mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, không gian văn hóa – lịch sử đặc biệt quan trọng của Thủ đô.
Ban có nhiệm vụ phối hợp tổ chức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về bảo tồn di sản; giới thiệu, quảng bá giá trị lịch sử – văn hóa hồ Hoàn Kiếm và khu phố cổ; tiếp nhận, quản lý, khai thác các di tích và công trình kiến trúc cổ sau tu bổ. Đồng thời, Ban chủ trì giám sát, kiểm tra các hoạt động văn hóa, du lịch, dịch vụ; tổ chức thu phí, cung cấp dịch vụ phục vụ du khách; kêu gọi đầu tư, lập Quỹ bảo tồn và khôi phục phố nghề, lễ hội truyền thống của khu phố cổ Hà Nội.